Đại học Thành Đô

Home » Nghiên cứu khoa học » TS. PHẠM HIỆP ĐƯA TIẾP CẬN LÀM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHONG CÁCH SÁCH DẠY NẤU ĂN THÀNH MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 

TS. PHẠM HIỆP ĐƯA TIẾP CẬN LÀM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THEO PHONG CÁCH SÁCH DẠY NẤU ĂN THÀNH MÔ HÌNH LÝ THUYẾT 

15/07/2026

Với bài báo “Using   Microlearning   to   Train   Research   Skills   for   Junior   Social Researchers: Toward a Micro-researching Framework” mới được công bố trên tạp chí Journal of University Teaching & Learning Practice (JUTLP), TS. Phạm Hiệp – Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Chuyển giao tri thức (Viện REK) – đã hiện thực hóa mục tiêu đưa mô hình “Micro-researching” vào hệ thống khung lý thuyết quốc tế. Cuộc trò chuyện này không chỉ xoay quanh công thức biến cách làm nghiên cứu kiểu “sách dạy nấu ăn” thành học thuật, mà còn là khát vọng nâng tầm năng lực lập thuyết của người Việt nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của các mô hình phương Tây.

NPV: Thầy biết đến phương pháp này hay thuật ngữ microlearning/micro researching này từ bao giờ và trong hoàn cảnh nào? 

TS. Phạm Hiệp: Ý tưởng này đến với tôi từ một trải nghiệm thực tế rất đời thường khi đọc các cuốn sách dạy nấu ăn (cookbook). Tôi nhận thấy các cuốn sách này có một cách tổ chức thông tin rất hay: mỗi công thức nấu ăn được bẻ nhỏ thành từng bước cụ thể và tất cả nội dung chỉ gói gọn trong đúng vài trang giấy. Người đọc nhìn vào đó là có thể làm theo được ngay lập tức mà không gặp khó khăn.

Từ đó, tôi bắt đầu suy nghĩ về việc áp dụng cách tiếp cận này vào việc dạy và học nghiên cứu khoa học. Thông thường, nghiên cứu khoa học luôn bị xem là một lĩnh vực rất phức tạp, nặng nề về lý thuyết và dễ khiến những người mới bắt đầu cảm thấy ngợp, dẫn đến tâm lý trì hoãn. Tôi tự hỏi tại sao chúng ta không biến quy trình nghiên cứu thành những bước nhỏ, rõ ràng như công thức nấu ăn để người học dễ tiếp thu hơn. Sau khi tìm hiểu các xu hướng giáo dục, tôi thấy ý tưởng của mình trùng khớp với khái niệm “microlearning” (học tập vi mô) đang phát triển trên thế giới. Từ nền tảng đó, tôi đi sâu vào chuyên biệt hóa nó thành “micro-researching” (nghiên cứu vi mô), tức là chia nhỏ quy trình nghiên cứu thành các phần việc rất nhỏ để học viên có thể thực hiện và ra kết quả ngay.

TS. Phạm Hiệp giảng bài tại  Hội trường Ngụy Như Kon Tum, 19 Lê Thánh Tông, ĐHQGHN trong khuôn khổ chương trình Trường hè tư duy 2025
TS. Phạm Hiệp giảng bài tại  Hội trường Ngụy Như Kon Tum, 19 Lê Thánh Tông, ĐHQGHN trong khuôn khổ chương trình Trường hè tư duy 2025

NPV: Trên thế giới hiện nay, các nền tảng giáo dục trực tuyến lớn như Coursera hay EdX cũng đang áp dụng rất thành công nguyên lý chia nhỏ kiến thức. Vậy mô hình nghiên cứu vi mô mà thầy đang vận hành có điểm gì khác biệt cốt lõi để tạo nên bản sắc riêng

TS. Phạm Hiệp: Về mặt hình thức, mô hình nghiên cứu vi mô của tôi có điểm giống với các nền tảng học trực tuyến lớn như Coursera hay EdX ở chỗ chia nhỏ kiến thức thành các video hoặc bài tập ngắn. Tuy nhiên, điểm khác biệt cốt lõi nằm ở chỗ các nền tảng kia thường chỉ tập trung vào góc độ thiết kế kỹ thuật, giao diện và sự thuận tiện của người dạy, còn khi thực sự đứng lớp, tôi quan tâm hơn rất nhiều đến các yếu tố tâm lý của người học.

Trong bài báo, mô hình micro-researching của tôi có kết hợp các thành tố của lý thuyết tự quyết (Self-determination theory) và Lý thuyết kỳ vọng giá trị (Expectancy-Value Theory) bởi đây chính là những yếu tố tôi thực sự cân nhắc và áp dụng trực tiếp vào quá trình giảng dạy thực tế.

Hình: Khung lý thuyết về nghiên cứu vi mô được công bố trên tạp chí JUTLP
Hình: Khung lý thuyết về nghiên cứu vi mô được công bố trên tạp chí JUTLP

Tôi luôn lưu tâm đến việc tạo ra động lực tự thân cho người học thông qua việc mang lại cho họ cảm giác tự chủ và thấy mình có đủ năng lực để hoàn thành nhiệm vụ. Khi một bài học hay nhiệm vụ nghiên cứu lớn được bẻ nhỏ ra, người học sẽ không bị áp lực tâm lý đè nặng, từ đó có sự tự tin rằng mình hoàn toàn làm được, điều này vừa thỏa mãn các nhu cầu về động lực vừa nâng cao kỳ vọng thành công theo thuyết kỳ vọng giá trị. Đồng thời, chúng tôi giúp học viên thấy rõ giá trị của việc nghiên cứu đối với bản thân. Nó vừa mang lại niềm vui thích khi tìm ra cái mới, vừa đảm bảo tính thực dụng, giúp họ thấy việc nghiên cứu này phục vụ trực tiếp thế nào cho công việc hay kế hoạch tương lai. Việc chú trọng vào quản trị tâm lý và đồng hành sát sao này là điều mà các khóa học đại trà của Coursera hay EdX hiện nay chưa giải quyết triệt để được, và đó chính là điểm khác biệt của dạy vi mô và đào tạo nghiên cứu vi mô mà tôi thực hành.

“Nghiên cứu khoa học không cần phải là một gánh nặng khổng lồ. Hãy bắt đầu bằng những ‘bước tiến vi mô’ và bẻ nhỏ nó như một công thức nấu một món ăn.”

NPV: Qua thực tế áp dụng phương pháp này vào công tác đào tạo và coaching, thầy đánh giá thế nào về hiệu quả thực tế đối với các học viên? Thầy có thể chia sẻ một trường hợp cụ thể hoặc một câu chuyện thành công ấn tượng nhất? 

TS. Phạm Hiệp: Về mặt kết quả định lượng, phương pháp này đã được chứng minh  hiệu quả thông qua kết quả các học viên tham gia Chương trình Research Coach in Social Sciences tại Viện REK. Nhiều học viên tham gia khóa học đã nâng được một bậc học, ví dụ từ thạc sĩ lên tiến sĩ, từ cử nhân lên thạc sĩ, hoặc săn được học bổng và xuất bản được bài báo quốc tế. Đối với rất nhiều người, đó là bài báo quốc tế đầu tiên trong sự nghiệp của họ.

Bên cạnh kết quả cá nhân, tôi thấy phương pháp này đạt hiệu quả rất lớn trong việc quản trị và phân công công việc. Khi áp dụng triết lý vi mô vào cộng đồng nghiên cứu mở rộng của chúng tôi, mọi người luôn tìm thấy phần việc phù hợp để làm ngay nếu muốn bắt tay vào nghiên cứu. Thay vì bắt một người mới phải gánh vác cả một đề tài lớn, công việc được bẻ nhỏ ra: có người chỉ phụ trách viết một phần tổng quan ngắn, người chuyên xử lý một phần dữ liệu, người lại chịu trách nhiệm xây dựng bảng câu hỏi. Cách làm này giúp giảm áp lực và ai cũng có thể đóng góp được ngay. Từ sự phân chia vi mô đó, các thành viên có thể học hỏi lẫn nhau theo mô hình cộng hưởng. Ví dụ, người đã có kinh nghiệm viết lách nhiều sẽ học thêm kỹ năng xử lý dữ liệu từ người chuyên làm định lượng, và ngược lại, người giỏi kỹ thuật số liệu sẽ học cách viết từ đồng nghiệp. 

Ảnh: TS. Phạm Hiệp chia sẻ phương pháp micro-researching với sinh viên trường Đại học Quảng Nam
TS. Phạm Hiệp chia sẻ phương pháp micro-researching với sinh viên trường Đại học Quảng Nam
TS. Phạm Hiệp thực hành phương pháp micro researching với các thành viên nhóm nghiên cứu tại Viện REK
TS. Phạm Hiệp thực hành phương pháp micro researching với các thành viên nhóm nghiên cứu tại Viện REK
ĐIỂM ĐẾN CỦA HỌC VIÊN RCISS

Các trường Đại học học viên RCISS đã nhận học bổng & theo học

Việt Nam

  • Trường Đại học RMIT Việt Nam
  • Trường Đại học Việt Nhật 
  • Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN 
  • Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông 
  • Đại học Kinh tế Quốc dân
  • Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN 
  • Đại học Bách Khoa Hà Nội 
  • Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN
  • Trường Đại học Mở TP. Hồ Chí Minh
  • Trường Đại học Ngoại Thương
  • Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
  • Đại học Huế
  • Đại học RMIT Việt Nam
  • Đại học Sư phạm HN 
  • Trường Đại học Thương mại 
  • Học viện Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 
  • Trường Đại học Cần Thơ
  • Đại học Thái Nguyên
  • Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
  • Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Châu Âu

  • Anh Quốc: University of Manchester | University of Leicester | London School of Economics | Coventry University | York University | University of Strathclyde | University of Nottingham Trent | University of Sussex | University College London 
  • Pháp: IAE Paris Sorbonne Business School | University of Strasbourg | Sciences Po Paris | University of Lille | Université de Strasbourg |  Rennes University | Université Grenoble Alpes | Université de Bordeaux
  • Bỉ: KU Leuven | Hasselt University
  • Hà Lan: Utrecht University | Maastricht University | Radboud University
  • Ireland: University College Dublin
  • Na Uy: University of Bergen
  • CH Séc: Tomas Bata University in Zlin
  • Đức: Viện Công nghệ Karlsruhe
  • Phần Lan: University of Turku 
  • Hungary: University of Szeged 
  • Nga: Higher School of Economics
  • Thụy Điển: World Maritime University
  • Tây Ban Nha: University of Deusto

Châu Mỹ

  • Mỹ: Johns Hopkins University | George Washington University | Indiana University | University of Wisconsin | James Madison University | University of Michigan | University of Illinois Urbana–Champaign | University of California, Berkeley

Châu Úc

  • Úc: University of Melbourne | University of New South Wales | University of Adelaide | Deakin University | La Trobe University Monash University | University of South Australia | Queensland University of Technology 
  • New Zealand: University of Auckland | University of Otago 

Châu Á

  • Nhật Bản: Ritsumeikan Asia Pacific University | Tsukuba University | Hiroshima University | Ibaraki University | The University of Tokyo | Waseda University
  • Hàn Quốc: Seoul National University | Korea Maritime & Ocean University 
  • Đài Loan – Trung Quốc: National Yang Ming Chiao Tung University | Yuan Ze University | National Chi Nan University | Chinese Culture University | National Cheng Kung University| National Kaohsiung University of Science and Technology | Ming Chuan University
  • Trung Quốc: Shanghai Jiao Tong University | Renmin University of China | Huazhong University of Science and Technology | Shandong University | Fudan University 
  • Hồng Kông – Trung Quốc: ĐH Giáo dục Hong Kong
  • Malaysia: Universiti Teknologi PETRONAS | Tunku Abdul Rahman University of Management and Technology 
  • Ấn Độ: Viện Công nghệ Ấn Độ Bhubaneswar 
  • Thái Lan: Mahasarakham University

Tuy nhiên, điều tôi đánh giá cao hơn cả là việc phương pháp này giúp ghi nhận những bước tiến vi mô (hay còn gọi là “baby step”). Đối với người mới làm nghiên cứu, việc hoàn thành một đoạn viết nhỏ hay xử lý xong một phần dữ liệu đã là một tiến bộ đáng kể. Tôi luôn nhớ về một trường hợp học trò đặc biệt mà tôi thường xuyên chia sẻ như một nguồn cảm hứng. Khi bắt đầu học tôi, bạn ấy gần như chưa biết gì về nghiên cứu khoa học. Nhưng qua quá trình kiên trì học tập và tích lũy các bước tiến nhỏ, bạn ấy đã thành công nộp hồ sơ du học và trở thành một trong số người ít ỏi tốt nghiệp được trường IAE Paris Sorbonne Business School, vốn nổi tiếng là chương trình học và điều kiện tốt nghiệp rất khắt khe. Những trường hợp thực tế như vậy khiến tôi càng có cơ sở để tin tưởng vào tính hiệu quả của phương pháp này.

NPV: Đứng ở góc độ một nhà quản lý giáo dục, thầy có kỳ vọng như thế nào về việc đưa “micro researching” vào hệ thống đào tạo chính quy? Nếu có cơ hội trực tiếp thiết kế một khóa học như vậy trong trường đại học, mô hình đó sẽ được vận hành ra sao? 

TS. Phạm Hiệp: Tôi hy vọng “micro researching” sẽ được nhiều người biết đến và trở thành một trong những lựa chọn khi mọi người suy nghĩ đến phương pháp giảng dạy trong chương trình đào tạo bậc đại học và đặc biệt là bậc cao học. Phương pháp này theo tôi là phù hợp nhất với những nghiên cứu viên mới vào nghề – bao gồm cả những người trẻ tuổi lẫn những người lớn tuổi nhưng mới bắt đầu làm nghiên cứu.

Nếu được toàn quyền thiết kế một khóa học chính quy, tôi sẽ triển khai theo mô hình lớp học đảo ngược (flipped classroom) dựa trên những thực nghiệm tôi đã làm. Cấu trúc cụ thể là học viên sẽ xem các video bài giảng ngắn (chỉ khoảng vài phút cho một nội dung) ở nhà vào bất cứ khi nào họ rảnh, ví dụ như lúc có 10-15 phút trống trong ngày. Trong mô hình này, học viên có thể linh hoạt học qua cả máy tính lẫn điện thoại di động mọi lúc mọi nơi để tiếp thu kiến thức một cách tiện lợi nhất. Như vậy, thời gian lên lớp trực tiếp sẽ không dùng để giảng lý thuyết nữa, mà hoàn toàn dành cho việc thảo luận nâng cao, giải đáp thắc mắc và hướng dẫn học viên thực hành trực tiếp trên bài nghiên cứu của họ. Việc dành nhiều thời gian lên lớp hơn cho trao đổi giúp cho sự kết nối giữa người học với người học, cũng như giữa người học với người dạy trở nên chất lượng hơn. Từ đó, người học luôn cảm thấy mình có những người đồng hành đồng hành, giảm cảm giác bị bỏ rơi hay lạc lối trên hành trình học tập của mình.

NPV: Nhìn lại hành trình dài từ việc vận hành các không gian nghiên cứu thực tế cho đến khi chính thức công bố công trình có xu hướng lập thuyết này, bài báo có ý nghĩa cá nhân như thế nào đối với thầy, và thầy kỳ vọng nó sẽ tạo ra tác động gì cho cộng đồng học thuật Việt Nam?

TS. Phạm Hiệp: Việc chuẩn hóa mô hình này thành một mô hình và xuất bản thành công trên một tạp chí quốc tế như Journal of University Teaching & Learning Practice (JUTLP) là mục tiêu tôi đã đặt ra từ nhiều năm trước. Trong giới khoa học, mọi người thường nhìn vào các con số xếp hạng của tạp chí như Impact Factor hay Q. Tôi không phủ nhận vai trò của những con số này nhưng ở đây, điều tôi quan tâm hơn ở JUTLP là đây là một tạp chí đi đúng vào ngành ngách về phương pháp giảng dạy – cũng chính là chủ đề cốt lõi của bài nghiên cứu này. 

Trước đây, tôi từng công bố một bài báo chia sẻ về kinh nghiệm thực tế khi vận hành Research Coach in Social Sciences (RCISS)[1], một trung tâm hỗ trợ nghiên cứu cho người mới tại Việt Nam. Nhưng việc chuyển từ bài viết chia sẻ kinh nghiệm sang một bài báo thiết lập khung lý thuyết (theoretical framework) là một bước tiến lớn hơn về mặt học thuật đối với cá nhân tôi.

Tất nhiên, việc xuất bản mới là bước đầu. Tôi hy vọng công trình này sẽ được cộng đồng học thuật, đặc biệt là các học giả quốc tế, đọc và trích dẫn trong các nghiên cứu của họ, vì điều đó chứng tỏ mô hình có giá trị thực tiễn. Việc công bố này vừa giúp tôi khẳng định năng lực nghiên cứu trong lĩnh vực mình theo đuổi, vừa đóng góp vào việc nâng cao vị thế (level up) của người Việt và người châu Á nói chung trên bản đồ học thuật thế giới, một nơi vốn bị chi phối phần lớn bởi các lý thuyết và mô hình từ phương Tây. Việc chúng ta tự xây dựng và công bố được một mô hình riêng là một minh chứng cho thấy người châu Á hoàn toàn có thể đóng góp vào việc định hình các phương pháp giáo dục toàn cầu.

[1] Pham, H. H. (2020). Coaching early-career social sciences researchers to publish their first indexed publications: the Research Coach in Social Sciences program as a model. Science Editing, 7(2), 189-193.
Trường Đại học Thành Đô

Địa chỉ: Km15, Quốc lộ 32, Hoài Đức, Hà Nội

Hotline : 0934 07 8668 – 0243 386 1601

Website: https://thanhdo.edu.vn/

Fanpage: https://www.facebook.com/truongdaihocthanhdo

Tin tức khác

0934 078 668